Chào mừng quý bạn đọc


Tìm Hiểu Về TRÀ (1)

Trong thời gian gần đây, uống trà trở thành phổ thông ở Tây phương, đặc biệt là Mỹ. Có những quán trà được mở ra, tương tự như những quán cà phê, tuy là vẫn còn rất ít. Trong những quán trà này, bán đủ loại trà, từ nhiều nước trên thế giới. Phần lớn là những trà gói cá nhân. Và thật sự thì những “túi trà” này không phải là chỉ gồm các loại trà người mình quen thuộc, mà có cả các loại hoa hay rễ thảo. Trong bài này chỉ nói đến trà thực (trà tầu) mà tên gọi là camellia sinensis hay thea sinensis.

Trà là thức uống thông thường của người Á châu: Trung quốc, Việt nam, Nhật, Hàn quốc, Ấn độ vân vân. Trà có nguồn gốc huyền thoại gắn với Thiền phái Phật giáo mở ra ở Trung quốc bởi Bồ đề Đạt ma, là một vương tử ở nam Ấn độ (Bodhidharma; bodhi = giác ngộ, tỉnh thức; dharma = pháp). Bồ đề Đạt Ma đi thuyền đến Trung quốc khoảng năm 520. Được vời đến giảng đạo cho Lương Vũ Đế. Nhưng vua không hiểu. Bồ Đề Đạt Ma bèn lên chùa Thiếu Lâm, trên núi Thiếu Thất trong rặng Tung Sơn, tu thiền định. Truyện kể rằng chín năm quay mặt vào vách, không nói. Để tránh buồn ngủ, Bồ Đề Đạt Ma đã xé mi mắt trên vất xuống đất để chúng khỏi sụp xuống mắt làm cho ngủ. Hai mi mắt này mọc thành cây trà. Vì thế hình vẽ Bồ đề Đạt Ma không có mi mắt trên. Dưới suy nghĩ thời nay của nhiều người, truyện không thể có thật, nhưng chỉ nói lên cái ý chí quyết tâm tu đạo của Bồ Đề Đạt Ma.

Một trong những dược tính ai cũng biết của trà là làm cho tỉnh ngủ, tinh thần sảng khoái. Và có lẽ vì thế mà đã nẩy sinh ra huyền thoại mi mắt Bồ Đề Đạt Ma mọc thành cây trà. Người ta giải thích rằng là vì chất caffeine có trong trà cũng như trong cà phê và colas, nhưng ở mức độ ít hơn: Lượng caffeine trong một chén trà chỉ bằng 1/3 lượng caffeine trong một chén cà phê. Tất nhiên, đây là con số trung bình, vì nó tùy theo cách pha đậm hay nhạt. Giải thích như vậy là nói tổng quát, nhưng không hẳn đúng. Vì trong khi uống cà phê nhiều người tim đập mạnh và hồi hộp, thì uống trà không thấy mấy người than phiền như vậy. Nói khác đi thì trong cà phê cũng như trong trà, ngoài chất caffeine còn có nhiều chất khác mà dược tính chưa được nghiên cứu tìm ra hết. Nếu tỉnh ngủ (tức là kích thích) là nhờ caffeine thì sự sảng khoái, an tâm (là làm dịu con người đi), không thể nào nói là nhờ caffeine.

Một trong những dược tính ai cũng biết của trà là làm cho tỉnh ngủ, tinh thần sảng khoái

Giúp cho tiêu hoá nhanh cũng là một dược tính được công nhận của trà, nhất là các loại đồ ăn nhiều chất béo hay chất thịt. Vì thế, vào các tiệm điểm tâm (tỉm xắm = dimsum), luôn luôn là có trà uống kèm theo. Lý do là các đồ ăn này đều có nhiều dầu mỡ (và vì thế khiến nhiều người khen ngon). Nhưng phải cẩn thận, loại trà trong các tiệm tỉm sắm là loại rẻ tiền, cho nên tác dụng giúp tiêu hoá không hẳn là có. Tác dụng tiêu hoá của các thứ trà trong các tiệm tỉm xắm, theo kinh nghiệm cá nhân tôi chỉ là tác dụng tưởng tượng (hay là có rất ít). Tóm tắt thì tác dụng giúp tiêu hoá của trà là có thật, nhưng tùy loại trà, và không phải là loại trà trong tiệm tỉm xắm.

Khi mà nói đến “tùy loại trà” thì sẽ có người hỏi là trà nào? Câu trả lời đơn giản là “trà tươi”, nghĩa là trà chưa chế hoá. Những loại chế hoá đem bán thì tác dụng có giảm đi, hay không còn nữa, tùy theo cách chế hoá. Những loại trà chế hoá thì có rất nhiều, hàng trăm loại, mùi vị khác nhau và các tinh chất trong đó cũng khác nhau, giá cả khác nhau. Một bảng Anh (pound, khoảng nửa ký) trà, giá từ 150 đô la Mỹ tới vài đô la.

Người ta thường chia ra làm trà xanh và trà đen, dựa theo mầu nước trà khi mới pha. Bởi vì để lâu, trà dù nước xanh cũng sậm lại trở thành nâu hay đen. Nhiều bài viết gần đây nói trà xanh có nhiều chất oxyt hoá (anti-oxidant) có thể giúp ngừa ung thư. Nhưng những chứng cớ thì cũng còn thưa thớt và không thực sự chắc chắn. Cũng tương tự như nói rượu vang (đò) có khả năng ngừa mỡ đọng trong mạch máu và giảm bệnh tim mạch.

Nhiều bài viết gần đây nói trà xanh có nhiều chất oxyt hoá (anti-oxidant) có thể giúp ngừa ung thư. Nhưng những chứng cớ thì cũng còn thưa thớt và không thực sự chắc chắn

Đã nói về tác dụng tốt của trà thì cũng phải nói thêm về cái xấu của trà. Là có những thứ trà uống vào bị cồn ruột, hay xót ruột. Mà khi cồn ruột hay xót ruột là bởi vì một là bao tử “yếu” tức màng nhày bao tử không đủ che chở bao tử hay là có chỗ bị viêm hay lở loét, hay là do chính vì phẩm chất của trà thuộc loại kém. Vì thế cho nên những người khỏe mạnh, màng nhày bao tử tốt, thì uống trà nào cũng chẳng sao, không cồn ruột. Và cũng vì thế những người có kinh nghiệm uống trà nhiều mới khám phá ra rằng có loại trà này làm cồn ruột, còn loại trà kia thì không. Một trong những lý do trà làm cồn ruột là vì lá trà già có nhiều chất chát (tannin). Chất chát này còn có tác dụng cản trở sự hấp thụ Calcium và sắt. Vì thế cho nên những người uống chất calcium (để ngừa sốp xương) hay là chất sắt (để chữa thiếu máu) thì phải chờ sau khi uống thuốc một giờ cho các chất này hấp thụ hết rồi mới uống trà. Trà làm cồn ruột cũng có thể do các hoá chất thêm vào trà để cho trà có hương vị đặc biệt. Thí dụ thực tế về hoá chất cho vào trà là thứ chè sen ở Việt nam, mùi hắc nồng nặc. Người từng uống trà ướp sen chính cống thì hiểu ngay rằng thứ trà sen mùi hắc như vậy là do hoá chất (cũng như người từng ăn cà cuống biết ngay cà cuống chai ở Thái lan là hoá chất). Cũng loại chè sen này, nếu để ý thì nước đen sì (có thể là do hoá chất tác dụng vào trà) và vị thì thật không có gì gọi là vị trà thông thường vẫn uống.

Tổng quát về trà là như thế, còn uống trà thế nào cho phải thì xin hẹn đến một lần sau.