Chào mừng quý bạn đọc


Tìm Hiểu Về TRÀ (2)

Những loại trà người Việt nam thường uống có thể phân ra làm hai loại chính, là trà không chế biến và có chế biến. Không chế biến là chè tươi, tức là chè bẻ thẳng từ cây xuống, khoảng 50 phân cả cành lẫn lá, gánh ra chợ bán. Chè tươi mua về rửa sạch bụi đất, cho vào nồi đun lên ủ bằng bao tải cũ hay là để trên một bếp nhỏ lửa leo lét đem ra quán cạnh đường bán cho khách bộ hành. Chè được múc ra bán từng bát sành thường dùng ăn cơm. Uống vào thì chát nhưng sau đó thì có vị ngọt trong cổ và giải khát. Cái lối uống chè này là lối bình dân. Ở nhà quê, chè này cũng thường được nấu rồi đem ra ruộng cùng với khoai luộc để tiếp tế cho người làm lúc nghỉ giữa buổi. Chè tươi hay dùng ở miền Trung, còn miền Bắc thì không phổ thông cho lắm, bởi vì có người uống vào thì bị cồn ruột. Thay vào đó là nước lá vối. Sang hơn thì là nước nụ vối, mà muốn uống cho kiểu cách thì có nhà thường hay bỏ vào trong ấm một vài lát gừng. Thời trước chiến tranh Việt Pháp, những nhà khá giả ở thành phố mà có lòng nhân thì thường đun một nồi nước chè tươi hay nước vối to, để ra ngoài cửa cho người dân nghèo đi qua nếu khát nước thì ghé vào mà uống. Trong thời chiến tranh chống Pháp, không có thuốc men, kể cả thuốc tím là thứ thông thường và rẻ tiền để rửa vết thương, người dân quê miền Trung thường lấy chè tươi để thiu đem ra để rửa các vết lở lâu lành như sâu quảng. Miền Bắc, nước vối thì đem dùng để rửa các vết phỏng. Dĩ nhiên rằng các lối chữa bình dân này không có một căn bản khoa học nào cả. Chè hạt cũng là một loại đồ uống thông dụng ở những nhà trung lưu miền Bắc. Chè hạt vị thơm hơn nhưng vì có nhiều chất chát tannin nên cũng hay làm cồn ruột. Trà chế hoá thì Việt nam nói chung là có chè mạn, ướp với các thứ hoa như nhài, sói, sen, thủy tiên. Chè ướp nhài tuơng đối phổ thông, vì hoa nhài nhiều. Chè hoa sói thì hiếm hơn, chỉ dùng ở miền Bắc. Chè sen là đắt hơn nữa. Còn chè thủy tiên thì càng quý và đắt, chỉ dùng vào dịp tết, chỉ một số thành phần sành điệu và khá giả mới dùng. Về sau này, chè sen trở thành thông dụng vì ướp hoá chất dễ kiếm, nhưng mùi hắc, sự độc hại không biết ra sao. Mới đây, nhà báo Việt Thường vốn ở miền Bắc nay định cư tại Luân đôn nói đến một loại trà quý ở miền thượng du chỉ dùng cho các lãnh đạo Cộng sản trong bộ Chính Trị uống là trà Lũng Phìn, mọc hoang trong rừng, mà ông có được uống với Nguyễn Tuân một lần. Người ta phân biệt những loại trà thông thường theo tên điạ phương trà mọc, như trà Thái Nguyên, trà Bảo Lộc, chứ không chia ra tùy theo mùi vị và cách chế biến như trà tầu.

Về sau này, chè sen trở thành thông dụng vì ướp hoá chất dễ kiếm, nhưng mùi hắc, sự độc hại không biết ra sao

Những loại trà từ bên Tầu mang sang bán ở Việt Nam thường gọi là trà Tầu, đều là những loại trà chế hoá. Có ba loại chính thông dụng là Ô Long, Long Tỉnh, Thiết quan âm khác nhau vì cách chế hoá, và mùi vị. Cùng một loại trà mà giá cả khác nhau và mùi vị cũng khác nhau. Trà Tầu cũng có loại ướp sen, ướp nhài nhưng mà phần lớn là xử dụng hoá chất, nên mùi vị không khác gì trà sen, trà hoa nhài ở Việt nam. Đài Loan hiện có nhiều loại trà ngon, mà tên thì có rất nhiều: hoàng trà, vương trà, thiên lộ trà, cao sơn trà vân vân… Những thứ này có thứ thì ra nước xanh, có thứ thì nước mầu nâu đỏ, có thứ thì vị thiết quan âm, có thứ thì vị Long tỉnh, có thứ thì vị ngọt vì có tẩm sâm, nhưng không có mùi của sâm như những thứ trà sâm đóng thành gói phổ thông giá rẻ vân vân… Từ khi Trung cộng đổi mới chuyển sang kinh tế thi trường thì công ty trà lớn Thiên Nhân ở Đài loan đầu tư vào Hoa lục và cho sản xuất những loại trà mang cùng tên Thiên Nhân. Giá rẻ hơn, nhưng mùi vị thì không bằng.

rà bình dân như trà tươi, nước vối thì là đồ uống giải khát. Trời nắng nóng, cầm bát chè tươi nốc một hơi cạn, vị the và chát, đầy một bụng, là một cái thú của người bình dân. Trong khi đối với trà sen hay trà tầu thì không ai uống như thế, mà là nhấp từng chút một, để thưởng thức cái mùi và cái vị của trà. Vì thế cho nên các cụ ta mới có câu “lông nách một nạm trà tầu một hơi” là để chỉ giới bình dân, “thô tục” không biết thưởng thức trà mà trà tầu cũng đánh một hơn cạn chén. Cái thái độ “văn hoá” uống trà nhâm nhi này chưa chắc đã đúng ở xã hội Tây phương văn minh, đặc biệt là Mỹ. Tại đây người ta thấy những quảng cáo người ăn nhồm nhoàm, phùng mang trợn mắt, vài miếng là hết để tả cái ngon, cái hấp dẫn của hamburger, hot dog, khoai tây chiên … Cũng thế, người ta quảng cáo dốc chai bia hay cái ly cối lên làm một hơi hết sạch để tả cái hấp dẫn của đồ uống. Thành ra uống trà theo lối đông phương, như tại Việt nam, Tầu hay Nhật không có sức lôi cuốn. Ai mà dám tà tà trong cái thời và cái nơi đi như chạy, vừa ăn vừa làm, vừa bàn chuyện công việc?

Chúng ta sẽ bàn thêm về uống trà trong một kỳ tới.